Trẻ bị ẩn tinh hoàn không điều trị sớm có nguy cơ teo, xoắn, làm giảm khả năng sản xuất tinh trùng, thậm chí ung thư.

Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Hoài Bắc, Trưởng khoa Nam học và Y học giới tính, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho biết ẩn tinh hoàn là một dị tật bẩm sinh khiến một hoặc hai bên tinh hoàn của trẻ không nằm ở bìu mà ở vị trí bất thường khác như lỗ bẹn sâu hoặc trong ổ bụng.

Tỷ lệ bé trai đủ tháng mắc ẩn tinh hoàn chiếm 3-5%, cứ 100 trẻ thì khoảng 4 bé mắc, 30-45% trẻ sinh non bị dị tật này. Ở độ tuổi 6 tháng đến một năm tuổi và lớn hơn, tỷ lệ trẻ bệnh xấp xỉ 1%. Ẩn tinh hoàn một bên nhiều gấp 4 lần so với ẩn hai bên. Cụ thể, tinh hoàn ẩn hai bên chiếm 23% trường hợp, tinh hoàn phải ẩn 46%, tinh hoàn trái ẩn 31%.

Bình thường, quá trình di chuyển của tinh hoàn từ ổ bụng tới bìu diễn ra bắt đầu từ tuần thai thứ 10 và kết thúc, cố định vị trí vào tuần thứ 35 thai kỳ.

Quá trình này chịu sự chi phối, điều khiển bởi một số yếu tố như nội tiết, vai trò của dây chằng bìu tinh hoàn giúp di chuyển đúng vị trí. Ngoài ra còn phụ thuộc kích thích của các xung thần kinh đùi sinh dục gây co thắt nhịp nhàng dây chằng bìu tinh hoàn, sự phát triển nhanh chóng của các tạng trong ổ bụng tạo ra áp lực lớn trong ổ bụng, giúp đẩy tinh hoàn xuống bìu.

Một số yếu tố nguy cơ như trẻ đẻ non tháng, nhẹ cân; tiền sử trong gia đình có cha, anh, em bị ẩn tinh hoàn; tuổi mẹ cao; mẹ mang thai nhiều lần hoặc mắc bệnh lý mạn tính; mẹ hút thuốc lá, sử dụng đồ uống có cồn hoặc caffeine trong quá trình mang thai hay phơi nhiễm với các hóa chất ảnh hưởng đến nội tiết.


Biến chứng thường gặp khi trẻ bị ẩn tinh hoàn

Tinh hoàn có hai vai trò chính là sản xuất nội tiết tố nam và sản xuất tinh trùng. Song, ở trẻ sơ sinh và những trẻ trước độ tuổi dậy, vai trò của tinh hoàn đối với cơ thể là rất hạn chế. Do đó, tinh hoàn ẩn trong giai đoạn này gần như không ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, cũng như trí tuệ của trẻ.

“Trẻ bị ẩn tinh hoàn vẫn phát triển bình thường như bao trẻ khác”, bác sĩ nhấn mạnh. “Nhưng nó sẽ để lại nhiều hậu quả và biến chứng khi trẻ đến tuổi dậy thì và trưởng thành”.

Thông thường, nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tinh hoàn là 33-35 độ C. Để đảm bảo nhiệt độ này, tinh hoàn phải nằm thấp tại vị trí bìu. Ở môi trường nhiệt độ cao hơn như bẹn, đùi, ổ bụng, tinh hoàn sẽ bị kìm hãm phát triển, thoái hóa và teo nhỏ đi.

Nhiệt độ cao còn khiến các tế bào mầm của ống sinh tinh (là các tế bào khi trẻ trưởng thành sẽ đóng vai trò sinh tinh trùng) cũng bị tổn thương và thoái hóa, dẫn đến giảm khả năng sản xuất tinh trùng.

Tinh hoàn nằm ở vị trí ống bẹn có nguy cơ chấn thương nhiều hơn khi bị va chạm so với tinh hoàn nằm trong bìu. Khi tinh hoàn không được cố định ở bìu, dễ dàng di động, nguy cơ xoắn cao gấp 10 lần bình thường.

Đặc biệt, tinh hoàn ẩn thường có sự biến đổi về hình thái tế bào mầm. Các tế bào này có thể thoái hóa và tiến triển thành các tế bào ung thư. Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy nguy cơ ung thư tế bào mầm tăng gấp 5-10 lần ở bệnh nhân tinh hoàn ẩn. Khoảng từ hai đến 6% nam giới tinh hoàn ẩn sẽ xuất hiện khối u tế bào mầm sau này, nghĩa là cứ 100 trẻ bị ẩn tinh hoàn thì 2-6 em tiến triển thành ung thư. Khoảng 10% bệnh nhân ung thư tế bào mầm có tiền sử tinh hoàn ẩn.

Những trẻ bị tinh hoàn ẩn nếu không điều trị, khi lớn lên có hiểu biết và so sánh với trẻ khác thấy thiếu hụt nam tính, lo lắng về thẩm mỹ, tương lai. Trẻ tự ti, mặc cảm, lo lắng, trầm cảm.

Bác sĩ khuyến cáo, tinh hoàn ẩn cần được phát hiện sớm và điều trị khi bé được một tuổi. Sau một tuổi, tinh hoàn ẩn không thể tự di chuyển xuống được mà bắt đầu có sự thay đổi về cấu trúc và chức năng theo hướng xấu đi, bắt buộc phải phẫu thuật.

Phụ huynh nếu nghi ngờ trẻ bị tinh hoàn ẩn nên đưa đến bệnh viện khám, điều trị, giúp trẻ phát triển bình thường như bao trẻ khác.


Thùy An